Số 02 - Tập 16

All Articles in Số 02 - Tập 16

Xem Theo Ngày

Kết quả ban đầu ứng dụng phẫu thuật ít xâm hại lấy mảnh ghép gan phải trong ghép gan từ người hiến sống

Tác giả:
Trần Công Duy Long
Lê Tiến Đạt
Số 02 - Tập 16 25/06/2026

Phẫu thuật nội soi lấy mảnh ghép gan từ người cho sống ngày càng được áp dụng rộng rãi, tuy nhiên cắt gan phải vẫn là kỹ thuật phức tạp với nhiều thách thức. Dữ liệu từ các trung tâm trong nước còn hạn chế. Do đó việc đánh giá kết quả bước đầu của phẫu thuật nội soi cắt gan phải từ người cho sống tại một trung tâm là rất cần thiết

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.3

Trang: -

Phẫu thuật nội soi cắt thận bệnh lý lành tính mất chức năng ở trẻ em

Tác giả:
Nguyễn Thị Mai Thủy
Đỗ Văn Chiến
Số 02 - Tập 16 25/06/2026

Phẫu thuật nội soi cắt thận ngày càng được áp dụng rộng rãi và trở thành tiêu chuẩn trong điều trị bệnh lý thận lành tính mất chức năng ở trẻ em. Đường tiếp cận có thể là qua phúc mạc hoặc sau phúc mạc. Nghiên cứu này nhằm đánh giá và so sánh kết quả lâm sàng của phẫu thuật nội soi cắt thận qua phúc mạc và sau phúc mạc ở trẻ em.

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.4

Trang: -

Bệnh lý Osgood-Schlatter ở người trưởng thành: Báo cáo 2 ca bệnh phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đại học Phenikaa

Tác giả:
Nguyễn Bá Sơn
Ngô Xuân Tuấn
Nguyễn Anh Quân
Nguyễn Tuấn Anh
Số 02 - Tập 16 25/06/2026

Bệnh Osgood–Schlatter là tình trạng viêm điểm bám gân bánh chè tại lồi củ xương chày, thường gặp ở thanh thiếu niên và đa số đáp ứng với điều trị bảo tồn. Tuy nhiên, các trường hợp kéo dài đến tuổi trưởng thành gây đau dai dẳng và hạn chế chức năng là hiếm gặp và có thể cần can thiệp phẫu thuật. Chúng tôi báo cáo hai trường hợp người trưởng thành không đáp ứng điều trị bảo tồn, được điều trị bằng phẫu thuật nội soi khớp. Trường hợp thứ nhất là người bệnh nam 41 tuổi với...

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.5

Trang: -

Bước đầu điều trị hẹp động mạch cảnh sau xạ trị bằng Stent Protégé kết hợp với lưới lọc: Báo cáo hai ca lâm sàng và tổng quan tài liệu

Tác giả:
Lê Thanh Dũng
Lê Nhật Tiên
Đào Xuân Hải
Lê Tuấn Vũ
Đoàn Thu Huyền3
Trần Quang Lộc
Số 02 - Tập 16 25/06/2026

Hẹp động mạch cảnh trong đoạn ngoại sọ do xạ trị là biến chứng muộn nhưng nguy hiểm ở người bệnh ung thư vùng đầu - cổ, với nguy cơ cao gây đột quỵ thiếu máu não. Phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh thường khó thực hiện trong hẹp động mạch cảnh đoạn ngoại sọ do xạ trị bởi mô sẹo, xơ hóa và nguy cơ biến chứng cao. Nong và đặt stent động mạch cảnh trong đoạn ngoại sọ hiện nay là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị bệnh cảnh này. Chúng tôi...

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.6

Trang: -

Hình thái lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị nhồi máu mạc nối lớn ở người lớn trong 5 năm

Tác giả:
Đinh Văn Chiến
Nguyễn Đình Hiếu
Nguyễn Bá Thái
Số 02 - Tập 16 25/06/2026

Nhồi máu mạc nối lớn (OI) là tình trạng thiếu máu cục bộ một phần của mạc nối lớn, là bệnh hiếm gặp gây đau bụng cấp tính, dễ nhầm lẫn với các cấp cứu ngoại khoa khác. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hình thái lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý này tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An.

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.7

Trang: -

Kết quả điều trị sỏi mật trong gan trái bằng phẫu thuật lấy sỏi phối hợp cắt gan thuỳ trái tại Bệnh viện Đà Nẵng

Tác giả:
Đặng Văn Thởi
Nguyễn Hoàng
Số 02 - Tập 16 25/06/2026

Sỏi mật tại Việt Nam chủ yếu là sỏi đường mật trong và ngoài gan, thường kèm hẹp đường mật và tỷ lệ tái phát cao. Phẫu thuật lấy sỏi kết hợp cắt gan phân thùy chứa sỏi được xem là giải pháp tối ưu để giải quyết triệt để nhu mô tổn thương.

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.8

Trang: -

Kết quả trung và dài hạn người bệnh ghép tim tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Tác giả:
Nguyễn Kim Dần
Nguyễn Hữu Ước
Nguyễn Quốc Kính
Dương Đức Hùng
Phùng Duy Hồng Sơn
Phạm Tiến Quân
Số 02 - Tập 16 25/06/2026

Ghép tim là phương pháp điều trị tối ưu cho người bệnh (NB) suy tim giai đoạn cuối, giúp cải thiện thời gian sống và chất lượng cuộc sống. Tại Việt Nam hiện còn ít báo cáo về kết quả theo dõi trung và dài hạn sau ghép tim. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả sống còn, biến chứng và chất lượng cuộc sống của NB sau ghép tim tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.9

Trang: -

Đánh giá mức độ trào ngược dịch mật sau phẫu thuật cắt dạ dày

Tác giả:
Nguyễn Xuân Hòa
Tống Quang Hiếu
Số 02 - Tập 16 25/06/2026

Sau cắt dạ dày, việc lập lại lưu thông tiêu hoá là điều bắt buộc. Có rất nhiều phương pháp phục hồi lưu thông tiêu hoá cho người bệnh sau cắt dạ dày. Nghiên cứu này đánh giá mức độ trào ngược dịch mật của người bệnh sau cắt dạ dày bán phần do ung thư.

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.10

Trang: -

Tiêu chí phẫu tích an toàn thiết yếu trong phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa: Nghiên cứu hồi cứu mô tả và đề xuất kỹ thuật

Tác giả:
Phan Quốc Việt
Huỳnh Quang Nghệ
Đặng Trần Khiêm
Lê Huy Lưu
Số 02 - Tập 16 25/06/2026

Khái niệm “Góc nhìn an toàn thiết yếu” (Critical View of Safety - CVS) được đề xuất bởi Strasberg trong phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt túi mật đã chứng minh hiệu quả trong giảm thiểu tai biến nhờ đảm bảo việc nhận diện chính xác các cấu trúc giải phẫu trước khi tiếp tục thao tác mổ. Tuy nhiên, một “góc nhìn” tương tự vẫn chưa được hình thành rõ ràng đối với PTNS cắt ruột thừa. Nghiên cứu này đề xuất ý tưởng “Tiêu chí phẫu tích an toàn thiết yếu” áp dụng cho PTNS cắt ruột thừa,...

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.11

Trang: -

Báo cáo ca lâm sàng: Một trường hợp thuyên tắc phổi sau can thiệp cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD)

Tác giả:
Hoàng Thị Thanh Tâm
Nguyễn Toàn Thắng
Vũ Huy Hoàng
Vũ Văn Khâm
Nguyễn Huy Thông
Số 02 - Tập 16

Cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) là phương pháp điều trị tối ưu cho tổn thương tiền ung thư và ung thư tiêu hóa sớm. Thuyên tắc phổi (PE) sau ESD là biến chứng hiếm gặp nhưng cấp tính và đe dọa tính mạng. Chúng tôi báo cáo ca lâm sàng PE sau thủ thuật ESD trực tràng ở người bệnh nam 83 tuổi. người bệnh được xử trí bằng heparin truyền tĩnh mạch sau đó chuyển sang enoxaparin tiêm dưới da mỗi 12 giờ. Sau 18 ngày điều trị ổn định, người bệnh xuất viện và...

https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.12

Trang: -