648
Kết quả điều trị sỏi mật trong gan trái bằng phẫu thuật lấy sỏi phối hợp cắt gan thuỳ trái tại Bệnh viện Đà Nẵng
137
Các số tạp chí
https://doi.org/10.51199/vjsel.2026.2.8
https://doi.org/10.51199
https://api-public.vjsel.vn
https://cdn.vjsel.vn

Kết quả điều trị sỏi mật trong gan trái bằng phẫu thuật lấy sỏi phối hợp cắt gan thuỳ trái tại Bệnh viện Đà Nẵng

T
Đặng Văn Thởi 1
Tác giả chính
H
Nguyễn Hoàng 2
Đồng tác giả
1 Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
2 Bệnh viện Đà Nẵng
Tiếng Việt

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Sỏi mật tại Việt Nam chủ yếu là sỏi đường mật trong và ngoài gan, thường kèm hẹp đường mật và tỷ lệ tái phát cao. Phẫu thuật lấy sỏi kết hợp cắt gan phân thùy chứa sỏi được xem là giải pháp tối ưu để giải quyết triệt để nhu mô tổn thương.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu những người bệnh điều trị sỏi mật trong gan trái bằng phương pháp phẫu thuật mở ống mật chủ (OMC) lấy sỏi kết hợp cắt gan thuỳ trái tại Bệnh viện Đà Nẵng từ tháng 01/2023 đến tháng 09/2025.

Kết quả: Có 34 trường hợp trong nghiên cứu của chúng tôi được phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi kết hợp cắt thuỳ gan trái. Lý do vào viện đa số là đau hạ sườn phải (85,3%), triệu chứng lâm sàng đau hạ sườn phải chiếm tỷ lệ cao nhất (91,2%). Mở OMC lấy sỏi đặt dẫn lưu Kehr được thực hiện ở 34 người bệnh (100%). Biến chứng sau mổ có 2 người bệnh bị nhiễm trùng vết mổ (5,8%), 1 người bệnh có tụ dịch ổ bụng sau mổ chiếm (2,9 %). Tái khám từ 1–6 tháng chưa phát hiện trường hợp tụ dịch hay tái phát sỏi.

Kết luận: Phẫu thuật lấy sỏi phối hợp cắt gan thùy trái là phương pháp hiệu quả và an toàn, giúp giải quyết triệt để bệnh lý sỏi đường mật kèm tổn thương nhu mô gan.

Từ khóa: Sỏi mật trong gan; phẫu thuật cắt gan; phẫu thuật lấy sỏi phối hợp cắt gan.

English

Outcomes of surgical stone removal combined with left lobectomy for left intrahepatic duct stones at Da Nang Hospital

Dang Van Thoi, Nguyen Hoang

1. Da Nang University of Medical Technology and Pharmacy, 2. Da Nang Hospital

Abstract

Introduction: Biliary lithiasis in Vietnam primarily consists of intra- and extrahepatic duct stones, often associated with biliary strictures and high recurrence rates. Surgical stone removal combined with segmentectomy of stone-bearing area is considered as a optimal solution for radical management of damaged parenchyma.

Patients and Methods: A prospective server was conducted on patients with left intrahepatic duct stones treated by open common bile duct (CBD) exploration for stone removal combined with left lobectomy at Da Nang Hospital from January 2023 to September 2025.

Results: A total of 34 patients in our study underwent common bile duct exploration with stone removal in combination with left hepatectomy. The most common reason for admission was right hypochondriac pain (85.3%), and this clinical symptom was manifested in 91.2% of cases. CBD exploration for stone removal with T-tube drainage was performed in 34 patients (100%). Postoperative complications included two cases of surgical site infection (5.8%) and one case of postoperative intra-abdominal fluid collection (2.9%). No complications such as fluid collection or stone recurrence were observed after follow-up from one to six months.

Conclusions: Surgical stone removal combined with left lobectomy is an effective and safe method, providing a radical solution for associated parenchyma lesions

Keywords: Intrahepatic duct stones; Hepatectomy; Surgical stone removal combined with hepatectomy.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Đình Hối,Nguyễn Mậu Anh (2012), “Sỏi đường mật”, Nhà xuất bản y học.
  2. Phí Hải Đường (2008), “Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt gan trong điều trị sỏi mật tại bệnh viện Việt Đức”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa II, Trường đại học y Hà Nội.
  3. Võ Đại Dũng (2021), “Kết quả phẫu thuật nội soi điều trị sỏi gan tại bệnh viện Trưng vương (2015-2019)/Võ Đại Dũng”, Y Học TP. Hồ Chí Minh. 25(1), tr. 155-161.
  4. Phạm Văn Cường (2009), “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, thương tổn giải phẫu và kết quả sớm điều trị phẫu thuật sỏi trong gan tại bệnh viện Việt Đức”, Luận văn Chuyên Khoa II, trường đại học y Hà Nội.
  5. Ran X., Yin B., Ma B. (2017), “Four major factors contributing to intrahepatic stones”, Gastroenterology research and practice. 2017, pp.1-5.
  6. Vũ Việt Đức,Trần Đức Quý (2021), “Đánh giá kết quả điều trị sỏi đường mật trong gan bằng phẫu thuật nội soi và sử dụng ống soi mềm tán thủy lực qua ống nối mật da tại bệnh viện trung ương quân đội 108”, Tạp chí Y học Việt Nam. 498(1), tr.165-169.
  7. Nguyễn Công Long, Lê Lục Long (2022), “Đánh giá kết quả phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng ở người bệnh sỏi ống mật chủ tại bệnh viện Bạch Mai.
  8. Trần Hữu Ngọc (2020), “Đánh giá kết quả phẫu thuật sỏi mật tái phát và sót sỏi đường mật sau mổ”, Luận văn chuyên khoa II, Trường đại học y dược Huế.
  9. Tôn Thất Bách, Trần Đình Giang, Nguyễn Duy Huề (2005), “Kỹ thuật cắt gan theo Tôn Thất Tùng”, Phẫu thuật gan mật, Nhà xuất bản y học, pp. tr. 7-11.
  10. Feng X., et al. (2012), “Classification and management of hepatolithiasis: A high-volume, single-center’s experience”, Intractable & rare diseases research. 1(4), pp.151-156.
  11. Uchiyama K., et al. (2002), “Indication and procedure for treatment of hepatolithiasis”, Archives of Surgery. 137(2), pp.149-153.
  12. Catena M., et al. (2006), “Treatment of non-endemic hepatolithiasis in a Western country. The role of hepatic resection”, The Annals of The Royal College of Surgeons of England. 88(4), pp.383-389.
  13. Bộ môn ngoại (2007), “Điều trị ngoại khoa sỏi đường mật”, Điều trị ngoại khoa tiêu hóa, Trường đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản y học, pp. tr.145-161.
  14. Chen D.W., et al. (2004), “Immediate and long-term outcomes of hepatectomy for hepatolithiasis”, Surgery. 135(4), pp.386-393.
  15. Yang T., Lau W.E., Lai E.C. (2010), “Hepatectomy for bilateral primary hepatolithiasis: a cohort study”, Annals of surgery. 251(1), pp.84-90.